VinaNesting

Từ bản vẽ đến phương án cắt
Xử lý trên máy · mm
CắtKhắcBỏ qua

Thêm file DXF để bắt đầu

Kiểm tra layer, biên ngoài và lỗ trước khi xếp.

Chọn contour, đặt số lượng và tấm phôi, rồi bấm XẾP PHÔI.

VinaNesting · Xếp phôi ngay trên máy.

Xoay tự do, ghép cặp, cắt chung cạnh (Co-Edge), lead và micro joint, lấp chỗ trống, xuất DXF cho CypCut.

Thả file DXF để thêm chi tiết
VINANESTING · HƯỚNG DẪN

Từ DXF đến phương án xếp

  1. Thêm DXF. Dùng DXF ASCII từ AutoCAD. Bản này đọc đường thẳng, cung, circle, polyline có bulge, spline và block thông thường; chưa mở DWG trực tiếp.
  2. Kiểm tra layer và contour. Chọn Cắt / Khắc / Bỏ cho từng layer. Tắt ô “xếp” ở contour không cần dùng. Kiểm tra kích thước, số lỗ và số lượng trước khi chạy.
  3. DXF đã có khe microjoint. Khi chưa có viền kín, các nét vẫn mở trong tab Bản vẽ. Tại mục 1, chọn bản vẽ trong “DXF hở · nhận diện khe microjoint”, nhập khe tối đa rồi bấm Xem thử. Chương trình báo số chi tiết, số lỗ và đánh dấu cam các khe nối nhận diện. Kiểm tra hình trước khi Áp dụng; dung sai áp dụng chung cho các DXF đã nhập. Nét cắt gốc và khe microjoint được giữ khi xuất, cả khi bật Đường chạy. Nếu muốn lấp thật khe hở, chọn nét của một chi tiết trong Bản vẽ rồi dùng Nối / Khép kín.
  4. Khai báo tấm. X = 1.500 và Y = 6.000 mm là khổ mặc định. Nhập độ dày thực tế. SL tấm = 0 nghĩa là không giới hạn; đặt số cụ thể nếu chỉ có số tấm đó.
  5. Cụm 2–4 + GLS. Ghép nhiều bản sao của cùng một chi tiết thành cụm 2, 3 hoặc 4; thử xoay và ghép xen kẽ nếu được phép. Vùng đặt của cụm được tính từ từng biên dạng thành viên, không lấy khung chữ nhật thay đường cắt. GLS tăng phạt cho các kiểu ghép gây khó, tháo một nhóm để đổi cách ghép và xếp lại; phương án xuất vẫn phải hợp lệ. Chọn số tối đa mỗi cụm và thời gian tối ưu thêm ở mục 4. Khi bật xếp đầu không giới hạn, chương trình chạy xong Raster để giữ phương án nền rồi chạy Cụm + GLS; nếu Raster tốt hơn thì giữ Raster. Số lẻ hoặc cụm không vừa được tách để thử cụm nhỏ hơn và từng chi tiết. Các cụm hiện ghép bản sao cùng loại, chưa ghép lẫn nhiều loại chi tiết. Nút “Thử 50 chi tiết lặp” dùng gá T mô phỏng, không phải DXF sản xuất của người dùng.
  6. Nhiều bản sao cùng loại. Trên phôi chữ nhật, NFP và Cụm + GLS tạo trước một phương án theo hàng từ khung bao xoay của chi tiết, có đủ khe và lề. Đây là phương án nền để tránh mất cả lượt khi hình học phức tạp; các bước NFP/GLS tiếp tục tìm cách xếp sát theo biên dạng thật. Thống kê ghi rõ khi có nền xếp hàng. Bấm XẾP PHÔI một lần tự xử lý toàn bộ số lượng; kết quả còn thiếu sẽ báo “Chưa xếp đủ” hoặc “Hết thời gian”, không báo đã xếp đủ.
  7. Chọn phương pháp và bấm XẾP PHÔI. Mặc định dùng Cụm 2–4 + GLS có phương án nền Raster; chế độ Kết hợp Raster + NFP cũng giữ phương án tốt nhất. Chương trình so số chi tiết còn thiếu, số tấm, diện tích phôi rồi chiều dài dùng theo hướng dồn. Chỉ giữ kết quả tốt hơn; NFP có thể tiếp tục cải thiện phương án nền của Raster. Cùng dữ liệu trong phiên làm việc, phương án tốt nhất của lượt trước được giữ để đối chiếu. Giao diện ghi rõ phương pháp tạo ra kết quả được chọn; nếu Raster chưa hoàn tất thì chưa thể kết luận đã tốt hơn Raster. Có thể chọn từng phương pháp chạy riêng.
  8. Góc xoay và thời gian. Thử bước 90° hoặc 45° trước; bước 1° mở thêm nhiều khả năng nhưng cần nhiều thời gian hơn. NFP chuẩn bị góc khi cần và so các góc hữu ích trước khi đặt chi tiết. Mặc định bật “Không giới hạn thời gian xếp ban đầu”: chuẩn bị hình học và hoàn tất một lượt xếp toàn bộ số lượng trước khi bắt đầu đếm 20 giây tối ưu thêm. Xếp đủ vẫn phụ thuộc vào kích thước chi tiết và số phôi có sẵn. Giao diện tách đồng hồ xếp đầu và tối ưu; có thể bấm “Dừng, giữ tốt nhất” ở cả hai giai đoạn. Nếu tắt tùy chọn, giới hạn áp dụng cho toàn lượt tìm kiếm. Quần thể GA mặc định là 8 phương án.
  9. Biên dạng phức tạp. Tìm kiếm dùng đường giảm điểm 0,05 mm. Với cặp quá nhiều đỉnh, NFP dùng vùng bao bảo thủ thay vì dừng cả lượt: cách này có thể bỏ lỡ một chỗ lồng khít và được ghi trong thống kê. Kiểm tra va chạm, khoảng cách và xuất DXF luôn dùng biên dạng gốc. Không có bảo đảm tối ưu toàn cục; dùng bảng “Dùng Y/X” để đối chiếu mức giữ phần dư khi cùng số chi tiết và số tấm.
  10. Kiểm tra kết quả và xuất. Chọn từng tấm, kéo hoặc xoay để chỉnh. Xem cảnh báo chồng lấn/quá sát/ra mép. Xuất DXF tấm đang xem hoặc ZIP tất cả tấm. Mở DXF trong phần mềm máy để đặt thông số cắt.

Lưu dự án tạo file JSON chứa chi tiết, số lượng, thông số, kết quả đã chỉnh tay và các phương án so sánh. Mở dự án phục hồi file này. SVG xuất riêng là hình học theo mm, không chứa lead/micro joint và không phải chương trình chạy máy.

So sánh: bấm “So sánh Raster / NFP” để chạy Raster, NFP + GA và Cụm 2–4 + GLS lần lượt, độc lập trên cùng dữ liệu. Bảng ghi số lượng, số tấm, chiều dài dùng, dải dư cuối, chênh lệch so Raster và thời gian từng giai đoạn. Hai hình dùng cùng tỷ lệ mm; chọn phương án ở mỗi bên, đổi tấm hoặc xem toàn phôi. Bấm “Dùng” để phục hồi đúng bố trí đã chọn. “Xem so sánh” mở lại các kết quả đã có. Nếu dữ liệu thay đổi, cần chạy so sánh lại. Hiệu suất diện tích có thể bằng nhau khi cùng số chi tiết và phôi; chiều dài dùng giúp so phần dư cuối.

Thử nhanh: bấm “Thử 34 chi tiết mẫu”, rồi “XẾP PHÔI”. Bộ mẫu gồm gá chữ L, tam giác có lỗ, vành tròn và bản đế; tấm mẫu dày 3 mm.

VinaNesting · Nhập DXF, xếp phôi và xuất dữ liệu cắt. Dữ liệu DXF được xử lý ngay trên máy. Kiểm tra kết quả và thông số cắt trước khi sản xuất.
V28.2 · CÙNG DỮ LIỆU · CÙNG TỶ LỆ

So sánh phương án xếp

Thêm chi tiết và tấm phôi, rồi chạy các phương pháp trên cùng dữ liệu.

Mỗi phương pháp chạy riêng, lần lượt trên cùng bộ chi tiết và thông số.
Hai hình luôn dùng cùng tỷ lệ mm. Nét cam đánh dấu chiều dài dùng.

Ưu tiên xếp đủ chi tiết → ít tấm → ít tổng m² phôi → ít m² vùng dùng → Dùng X/Y. Tổng phôi là toàn bộ diện tích các tấm đã sử dụng, kể cả phần dư. Diện tích chi tiết là diện tích vật liệu thực, đã trừ lỗ. Kín cả tấm = chi tiết / tổng diện tích tấm. Vùng dùng là dải toàn chiều rộng/cao tấm đến chi tiết xa nhất theo hướng dồn; Kín vùng dùng = chi tiết / diện tích dải này, chưa phải diện tích phôi thừa thực sự thu hồi được. So Raster chỉ tính khi số lượng và phôi bằng nhau. “Dư cuối” là dải trống sau chi tiết xa nhất theo hướng dồn trên phôi chữ nhật, chưa phải phần dư lớn nhất. Thời gian xếp đầu và tối ưu được tách riêng. Nút Dùng phục hồi đúng bố trí đã chọn; các kết quả được giữ trong file Lưu dự án.